thongtinytecongdong.com

Bài viết 02/2017

Cây sung "món ăn và vị thuốc"

Hồi nhỏ, tôi thường nghe mẹ tôi hát ru: “ù ơ… (chớ) ngồi dựa gốc sung, (mà) chịu tiếng ăn sung… (chớ) non già ai hái hết, (mà) chịu tiếng oan 1 mình”.... Nghĩa bóng của câu này để chỉ 1 người nào đó không làm 1 việc gì đó nhưng vẫn bị mang tiếng oan. Nhưng nghĩa đen của nó thì thật là khó hiểu! Có cái gì ngon, cái gì quý trọng quả sung đâu mà có người “ngồi chờ sung rụng”, mà phải “chịu tiếng oan”? Đầu thập niên 50, miền trung bị hạn hán kéo dài, khiến những liếp cà, những luống rau chết tiệt. Cha tôi bảo hái hết quả trên cây sung bở rào vào muối chua thay cà. Thế là cả nhà tôi có cái ăn tạm qua cơn thiếu thốn. Qua cơn hạn hán đến lụt to, sau đó lại được mùa lúa. Những quả sung muối còn sót lại được dùng để kẹp thịt heo luộc chấm mắm cá cơm. Cha tôi nói đâu có thua gì trái vả mà người Huế hay dùng…. Tôi hỏi thấy tôi, 1 ông thầy thuốc bắc dạy tôi từ thời niên thiếu, trái sung và cây sung có vị thuốc gì không? Thầy bảo sung có vị chất tính bình, không độc, có tác dụng kiện tỳ vị, có tính thu liễm, cố sáp, là vị thuốc cầm tinh, cố tinh rất tốt trong các chứng mộng tinh, di tinh, tảo tinh. Vỏ cây sung sắc đặc hòa rượu uống có tác dụng bổ dương. Khi vào Sài Gòn học dược, tình cờ tôi thấy bà chủ vườn lượm hết sung rụng (trái sung khi chín muồi thì rụng hết) vào rim với đường làm mứt. Tôi hỏi bà không sợ bầy sâu bên trong trái sung hay sao? Chừng đó bà ta mới tá hỏa vì đã ăn mứt sung mười năm liền mà nay mới biết trong trái sung nào cũng đầy sâu! Bà nhờ tôi đem đổ bỏ 3 ky mứt sung vừa mới làm xong. Tôi không đổ mà để dành ăn dần, vì trước kia thầy tôi có nói đó là loại côn trùng “nên thuốc”. Vả lại bà chủ nhà tôi đang ở nói đã ăn mứt sung này 10 năm liền mà tôi thấy bà vẫn mập mạnh…. Tốt nghiệp dược sĩ quốc gia năm 1969, từ đó đến nay tôi vẫn mang trong lòng những điều thắc mắc về 1 quả cây mà nhiều người thường chưng trong mâm quả cây ngày tết cho “sung” này. Đọc sách “Những cây thuốc Đông Dương” của Alfred Petelot (Les plantes medicinales Viet-nam, Sài Gòn 1952), chỉ thấy nói trái sung và lá sung non ăn được, nhựa mủ sung được dân gian làm cao dán chữa nhức đầu và vài bệnh ngoài da như mụn nhọt, chốc lở. Sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Hà Nội 1981 của tiến sĩ Đỗ Tất Lợi cũng dịch lại điều này và có nói rõ thêm cách dùng cụ thể và thêm phần nhựa sung hòa với mật ong uống chữa suyễn. Sách “Cây thuốc Đông Dương” của Nguyễn Văn Dương R.Ph., Ph.D. (Medicinal Plants of Việt Nam, Cambodia and Laos, USA 1993) cho thấy chiết xuất cốn từ vỏ cây sung (Ficus Racemosa Roxb. = F. glomerata Roxb.) có tác dụng kháng nguyên sinh động vật dùng để chữa lỵ amib. Trích tinh này cũng có tác dụng hạ đường lượng trên chuột (hypoglycemic effect in albino rats, Dhar et al., 1968). Tôi viết bài này để trả lời mấy bạn đọc hỏi về cây sung và cũng mong vị nào có tài liệu hay kinh nghiệm gì khác về cây sung xin viết thư bổ túc thêm.
DS. Phan Bảo An - Thuốc và Sức khỏe - Số 49(1.8.1995)

Dược phẩm đặc chế Nìluril

Nifluril là thuốc kháng viêm, giảm đau, hạ sốt không steroid (giảm sưng đau và giải nhiệt không thuộc nhóm thuốc hột dưa) được Viện Bào chế UPSA (Pháp) sản xuất và đưa vào thị trường thuốc Việt Nam dưới các dạng bào chế sau đây, nhằm đáp ứng yêu cầu trị liệu của nhiều đối tượng bệnh khác nhau:
- Nifluril gelules (viên nhộng, 250mg acid niflumic)
- Niflugel (Nifluril dạng gel bôi ngoài da)
- Nifluril suppositoires adultes (Nifluril dạng thuốc đạn dùng theo đường hậu môn dành cho người lớn)
- Nifluril suppositoires enfants (Nifluril dạng thuốc đạn cho trẻ con)
- Nifluril gel gingival (Nifluril gel dùng ngậm dưới lưỡi)
- Nifluril Pommade (Nifluril dạng thuốc mỡ)....
Đặc tính trị liệu
Nifluril (acid niflumic) là thuốc kháng viêm, giảm đau, hạ sốt không steroid. Trong cơ chế gây đau, các chất prostaglandin (do cơ thể sinh tổng hợp), là 1 trong những nguyên do dẫn tới sưng nóng đỏ đau trong thấp khớp, sưng đau trong té trặc chấn thương, có thắt cơ trơn gây thiếu máu cục bộ nên gây đau trong đau bụng kinh…. Nifluril có tác dụng ngăn cản sự sinh tổng hợp các chất prostaglandin, nên yếu tố gây đau trong các chứng bệnh trên không còn nữa. Sau khi dùng, hoạt chất của Nifluril sẽ thấm vào máu nhanh chóng. Thời gian bán hủy của thuốc tương đối ngắn (4 - 5 giờ) nên ít độc vì thuốc không tích lũy trong cơ thể, dù dùng lặp lại nhiều lần. Thuốc được đào thải chủ yếu theo nước tiểu.
Công dụng và chủ trị
Nifluril gelules: trị liệu các triệu chứng sưng đau lâu dài trong:
- Viêm đa khớp dạng thấp
- Sưng đau do thấp khớp, thoái hóa khớp
- Trị liệu triệu chứng sưng đau có kết hợp kháng sinh trong tai mũi họng (trong 4 - 5 ngày).
Nifluril suppositoires (như Nifluril gelules)
Niflugel, Nifluril pommade:
- Bôi tại chỗ, trong chấn thương, sưng bầm, té trặc, bong gân, đau nhức các loại…
Nifluril gel gingival:
- Bôi trong miệng khi viêm nha chu, viêm lợi các loại.
Chống chỉ định
- Dị ứng với acid niflumic
- Viêm loét dạ dày tá tràng tiến triển
- Viêm gan, thận nặng
- Trẻ em dưới 13 tuổi không dùng Nifluril gelules và Nifluril suppositoires adultes.
- 3 tháng cuối của thai kỳ.
Liều dùng:
Dùng theo hướng dẫn của thầy thuốc hoặc tài liệu chỉ dẫn trong hộp thuốc.
Nơi phân phối:
Các trung tâm bán sỉ dược phẩm và các nhà thuốc trên cả nước.
DS. Châu Huỳnh - Thuốc và Sức khỏe - Số 49(1-8-1995)

Có nên dùng Bromocriptine để cai sữa?

Bromocriptine là thuốc có tác dụng kích thích sự tiết Dopamine (do đó được dùng để trị bệnh Parkinson) nhưng đồng thời ức chế sự tiết Prolactin, là 1 hormon của vùng trước tuyến yên kích thích sự tiết sữa. Vì vậy, từ lâu Bromocriptine có 1 chỉ định là dùng để cai sữa đối với phụ nữ sau khi sanh vì lý do nào đó không thể tiếp tục cho con bú. Nhưng gần đây, theo 1 thông tin của tạp chí về thuốc của Tổ chức y tế thế giới (WHO Drug Information, Vol 8, N⁰3, 1994), Bromocriptine không còn được khuyến cáo dùng để ức chế sự tiết sữa. Thông tin ấy như sau: đi trước ý định có các biện pháp nghiêm ngặt của cơ quan quản lý Thực và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), nhà sản xuất thuốc Bromocriptine (Parlodel) đã tự ý xóa bỏ 1 chỉ định của thuốc là ức chế sự tiết sữa sau khi sanh ở phụ nữ đối với 2 nước đang lưu hành thuốc này là Hoa Kỳ và Canada. Trong thời gian qua Thực và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã đánh giá lại 24 công trình nghiên cứu đã được đệ trình lên cơ quan này vào năm 1975 nhằm hỗ trợ cho việc ghi chỉ định này lên nhãn thuốc. Vào tháng 8-1994, Thực và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) tuyên bố ý định của cơ quan là sẽ rút bỏ sự thừa nhận chỉ định trên vì: “lợi ích của Bromocriptine ức chế sự tiết sữa bị hạn chế bởi 1 số yếu tố” và bởi vì Bromocriptine “Không chứng tỏ an toàn vào mục đích này”. Trong tuyên bố, Thực và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) lượng giá giữa lợi ích điều trị với nguy cơ bị tác dụng phụ. Cơ quan này nhấn mạnh, với phương pháp gọi là truyền thống vẫn có thể tạo ra sự ức chế tiết sữa trong vài ngày bằng cách dùng túi chườm lạnh, dùng băng ép (để nịt chặt ngực) và thuốc giảm đau. Nhiều phụ nữ, sau khi dùng 3 tuần Bromocriptine thường bị chứng tiết sữa hồi phát (rebound lactation, tức sau khi ngưng, lại tiết sữa trở lại), điều này lại ít xảy ra hơn khi dùng các biện pháp truyền thống đã kể. Hơn nữa, dường như Thực và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) có thông tin mới cho rằng Bromocriptine có thể đưa đến tác dụng phụ trầm trọng, gồm cả bị liệt và tử vong đối với người dễ có nguy cơ - như phụ nữ bị động kinh và bị biến chứng tim mạch do tăng huyết áp - mà các nguy cơ không thể nhận diện 1 cách đầy đủ. Cơ quan này kết luận: “so với lợi ích hạn chế của Bromocriptine ức chế sự tiết sữa với tính hiệu quả và không có tác dụng phụ của các biện pháp truyền thống như buộc chặt ngực cộng với việc dùng thuốc giảm đau hay không, rõ ràng là nguy cơ gây ra tác dụng phụ trầm trọng của Bromocriptine ở phụ nữ sau khi sanh là không thể chấp nhận được”.
DS. Nguyễn Hữu Đức - Thuốc và Sức khỏe - Số 49(1.8.1995)

Chóng mặt - Phần 3

(Thuốc này không có tác dụng bất hảo, không có chống chỉ định, chỉ chưa có công trình nghiên cứu ở người mang thai, không tiêm bắp, chỉ chữa chứng chóng mặt, nhưng để nguyên chất lại gây chóng mặt, do đó hút vào ống tiêm bơm 15 ml máu để pha trộn với 5 ml thuốc, trước khi tiêm chậm). Khi cắt được cơn sẽ dùng Sibelium, mục tiêu là điều hòa chức năng tiền đình, cơ chế là điều hòa thông lượng ion calci ở tiền đình (liều : nửa viên buổi tối, trong 1 – 2 tuần lễ, thời gian thông thường khuyên dùng là một tháng, không dùng quá hai tháng). Giai đoạn điều trị trên nhằm cắt cơn chóng mặt và điều hòa chức năng tiền đình. Giai đoạn thứ 2 là làm giảm ảnh hưởng đến tâm lý người bệnh bằng những thuốc giảm lo (loại diazepam) hay loại chống buồn nôn (aminazine, largactil), liều bao giờ cũng thật nhỏ, thí dụ : 1/4 viên buổi chiều, có thể thêm 1/4 viên vào buổi trưa. Dĩ nhiên, tập như ghi ở phần đầu là không thể thiếu được.
Phần thông tin
Gác qua một bên những thao tác lâm sàng kinh điển áp đụng để khám cho một người bệnh than chóng mặt, chúng tôi bàn qua một dấu hiệu quan trọng đó là rung giật nhãn cầu, gọi nôm na “tròng đen của mắt giựt giựt”. Khoa sinh lý học cho biết, tiền đình (ở trong tai) nếu bị kích thích hay suy kém, tác động vào một hoặc vài cặp cơ đối kháng vận chuyển nhãn cầu và tạo triệu chứng rung giật nhãn cầu. Triệu chứng này thấy rõ khi người bệnh nhìn xéo một bên, ở nơi ít ánh sáng (thật rõ trong tối). Có khi khó nhận ra vì bệnh nhân cố chăm chú vào một vật gì trước mắt do phản xạ, nói nôm na “bệnh nhân vô tình gượng lại không để cho tròng đen lảo đảo”. Để tránh tình trạng đó người ta cho bệnh nhân đeo một cặp kính đặc biệt (kính Frenzel) gồm một cặp kính phóng đại và một hệ thống soi sáng cốt làm mờ tất cả những gì trước mắt người bệnh để dễ quan sát vận chuyển của nhãn cầu. Hiện đại hơn, có máy ghi, thực hiện điện nhãn đồ. Hiện đại hơn nữa có máy tên video điện nhãn đồ. Nguyên tắc là chắn bít thị trường cả hai mắt người bệnh, quay video tròng đen hai mắt bằng tia hồng ngoại xuyên tấm chắn, rung giật nhãn cầu có tần số được ghi vào máy điện toán và cho ra một con số. Video điện nhãn cầu giúp theo dõi bệnh trạng và rát có ích trong địa hạt pháp y (nạn nhân chỉ bị di chứng là chóng mặt, luật pháp có cơ sở khoa học để phán xét). Trở về thực tế lâm sàng ở nước ta, ta có thể gây triệu chứng rung giật nhãn cầu ở bệnh nhân chóng mặt. Cách làm như sau : thực hiện động tác giống như động tác tập, ghi ở đoạn trên, nhưng tư thế đầu có khác do mục tiêu là tác động vào thạch nhĩ ở mê đạo và ống bán khuyên sau, tại tai trong : mũi đưa lên trần nhà, trục thị giác dưới 30o vào mặt phẳng nằm ngang. Bệnh nhân được giải thích cặn kẽ, người khám đứng trước mặt, một tay vịn ở sau cổ người bệnh, một tay nắm lấy cẳng tay phía trên mà người bệnh sắp nằm nghiêng nhanh, đợi vài giây mới thấy xuất hiện rung giật nhãn cầu phía có thương tổn ở trong tai.
BS. Lương Phán – Thuốc & sức khỏe – Số 52 (15-09-1995)